rèm cửa, đăng ký nhãn hiệu, nấm lim xanh, mỹ phẩm ohui, áo đôi, ohui trang điểm, hài tết, táo quân cuối năm, bot yen mach rem phong ngu, ao khoac doi

Home

Giải phẫu siêu âm tuyến nước bọt

Được viết ngày Thứ bảy, 22 Tháng 9 2012

1. Giới thiệu

Ở Mỹ, chiến thuật đề xuất cho chẩn đoán hình ảnh các tuyến nước bọt gồm có chụp CT không tiêm thuốc cản quang và tiêm thuốc cản quang, chụp MRI không tiêm thuốc đối quang từ và tiêm thuốc đối quang từ, chụp X quang tuyến nước bọt-sialography (còn có chụp MRI tuyến nước bọt, MR sialography) được áp dụng theo thứ tự khác nhau tuỳ thuộc vào dữ liệu lâm sàng. Nói chung, CT là phương tiện đơn tốt nhất để đánh giá các bệnh viêm tuyến nước bọt và MRI là phương tiên đơn tốt nhất để đánh giá các khối u tuyến nước bọt. Theo Yousem và đồng sự siêu âm không được tận dụng ở phần lớn các nước Bắc Mỹ, nhưng trong tay những người có kinh nghiệm nó có thể thay thế cả CT và MRI trong chẩn đoán các tổn thương tuyến nước bọt nằm ở phần nông của tuyến.

Ở châu Âu và châu Á, siêu âm được chấp nhận rộng rãi là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đầu tiên để đánh giá hạch và các bệnh mô mềm ở đầu và cổ, bao gồm cả các tuyến nước bọt lớn. Những kết quả của riêng khảo sát siêu âm có thể gợi ý chẩn đoán cuối cùng hoặc cung cấp dữ liệu chẩn đoán phân biệt quan trọng. Bởi vì vùng đầu và cổ có cấu trúc giải phẫu phức tạp, nên kiến thức vững chắc về giải phẫu siêu âm và những mối liên quan không gian là cần thiết để thực hiện khảo sát siêu âm một cách tin cậy. Tương tự, người làm siêu âm còn phải có kiến thức về những đặc điểm siêu âm của các bệnh phổ biến nhất của vùng này.

Đôi khi chúng ta không thể nhìn rõ tổn thương một cách đầy đủ chỉ bằng siêu âm do vị trí của nó, độ đâm xuyên hạn chế tới thuỳ sâu của tuyến mang tai hoặc đằng sau bóng cản của xương hàm. Trong những tình huống này, chúng ta nên dùng CT và MRI để khảo sát tổn thương. Tương tự, trong những trường hợp nghi ngờ tổn thương ác tính, chúng ta nên sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đó (CT, MRI) để đánh giá thâm nhiễm xương hoặc các cấu trúc sâu không thể thấy rõ khi siêu âm (nền sọ, khoang bên hầu) và để đánh giá những hạch bạch huyết nằm sâu. Mặt khác, chụp lấp lánh động học (dynamic scintigraphy) vẫn là phương pháp lựa chọn để đánh giá chức năng các tuyến nước bọt.

2. Kỹ thuật thăm khám

Nên sử dụng đầu dò tần số càng cao càng tốt để khảo sát. Thông thường, dùng các đầu dò tuyến tuyến tính băng rộng 5-12 MHz (tần số trung bình 7-7.5 MHz hoặc hơn) [9]. Để đánh giá những khối u lớn và những tổn thương nằm ở thuỳ sâu của tuyến, dùng đầu dò 5-10 MHz là hữu ích [9]. Những đầu dò có tần số trung bình trên 10 MHz có thể hữu ích trong đánh giá cấu trúc bên trong của các tuyến nước bọt.

Toàn bộ các tuyến nước bọt lớn và tất cả các tổn thương nên được đánh giá ở ít nhất hai mặt phẳng vuông góc. Cũng nên khảo sát toàn bộ cổ để đánh giá hạch bạch huyết và tìm những bệnh liên quan hoặc đồng thời.

3. Giải phẫu siêu âm các tuyến nước bọt bình thường

Tuyến mang tai (parotid gland)

Tuyến mang tai nằm ở hố sau hàm, trước tai và cơ ức đòn chũm. Các phần của thùy nông che phủ hàm dưới và phần sau của cơ cắn (Hình 1).

Hình 1. Ảnh siêu âm toàn cảnh cắt ngang (a) và sơ đồ tương ứng (b) cho thấy tuyến mang tai trái và một phần của má. m = cơ.

Ranh giới giữa các thùy nông và sâu được tạo bởi mặt phẳng chứa dây thần kinh mặt và các nhánh của nó. Các nhánh của dây thần kinh mặt không thể nhìn thấy trên siêu âm. Các đoạn của thân dây thần kinh mặt chỉ có thể thấy được với những đầu dò tần số cao (trên 10 MHz) [13]. Do đó, tĩnh mạch sau hàm, tĩnh mạch này thường nằm ngay trên thân dây thần kinh mặt [14], được dùng làm mốc siêu âm chia thùy nông và thùy sâu của tuyến mang tai (Hình 2 – 4). Mặc dù phần ngoài sọ của dây thần kinh mặt có thể nhìn thấy trên các ảnh MRI độ phân giải cao [15], tĩnh mạch sau hàm thường được coi là mốc giải phẫu trong CT và MRI đánh giá quan hệ với u tuyến trước mổ [16]. Thùy sâu tuyến mang tai chỉ có thể nhìn thấy được một phần khi siêu âm. Một vài vùng của nhu mô tuyến và các tổn thương có thể bị che khuất do bóng cản âm ở phía sau ngành xương hàm dưới (Hình 4).

Hình 2. Hình vẽ các mạch máu chính trong vùng các tuyến nước bọt. 1 = tĩnh mạch sau hàm, 2 = động mạch cảnh ngoài, 3 = động mạch và tĩnh mạch mặt, 4 = động mạch và tĩnh mạch lưỡi, 5 = động mạch cảnh ngoài, 6 = tĩnh mạch cảnh trong, 7 = tĩnh mạch cảnh ngoài.

Hình 3. ảnh siêu âm cắt ngang (a) cho thấy giải phẫu bình thường của tuyến mang tai trái. Vị trí của đầu dò siêu âm theo hình nhỏ ở góc. 1 = tĩnh mạch sau hàm, 2 = động mạch cảnh ngoài, 3 = tăng âm ở bề mặt của xương hàm, 4 = tuyến mang tai, 5 = cơ cắn.

Hình 3. ảnh siêu âm cắt dọc (b) cho thấy giải phẫu bình thường của tuyến mang tai trái. Vị trí của đầu dò siêu âm theo hình nhỏ ở góc. 1 = tĩnh mạch sau hàm, 2 = động mạch cảnh ngoài, 3 = tăng âm ở bề mặt của xương hàm, 4 = tuyến mang tai, 5 = cơ cắn.

Hình 4. Ảnh siêu âm cắt ngang tuyến mang tai phải (a) và sơ đồ tương ứng (b) cho thấy ranh giới giữa các thùy nông và sâu của tuyến. Vị trí đầu dò siêu âm theo hình nhỏ ở góc.

Hình 4. Ảnh siêu âm cắt ngang tuyến mang tai phải (a) và sơ đồ tương ứng (b) cho thấy ranh giới giữa các thùy nông và sâu của tuyến. Vị trí đầu dò siêu âm theo hình nhỏ ở góc.

Đậm độ âm của tất cả các tuyến nước bọt, gồm cả tuyến mang tai, thường là đồng nhất và thay đổi từ mức tăng âm mạnh và rất sáng tới mức chỉ hơi tăng âm so với các cơ lân cận. Đậm độ âm của tuyến mang tai phụ thuộc vào lượng mô mỡ trong tuyến. Các tuyến nước bọt có thành phần mỡ nhiều thì tăng âm so với các cơ xung quang và  cản sóng siêu âm một cách rõ rệt, đến độ thùy sâu không thể đánh giá bằng siêu âm được và đôi khi các mạch máu lớn chạy qua tuyến mang tai – tĩnh mạch sau hàm và động mạch cảnh ngoài – có thể nhìn thấy vừa đủ hoặc không thể nhìn thấy trên các ảnh thang xám (Hình 5).

Hình 5. Ảnh siêu âm toàn cảnh cắt ngang tuyến mang tai phải (mũi tên) và má cho thấy tuyến có thành phần mỡ nhiều. Nhu mô tăng âm với sự cản sóng siêu âm rõ rệt, và không nhìn thấy mạch máu nào. Vị trí đầu dò siêu âm theo hình nhỏ ở góc. 1 = cơ cắn.

Sau khi rời tuyến mang tai, ống ngoại tiết chính (ống Stenon) nằm trên cơ cắn, dưới cung gò má khoảng 1 cm, rồi đi qua cơ mút (cơ má) và có lỗ đổ ra ở nhú mang tai ngang mức răng hàm trên thứ hai. Chiều dài của ống Stenon thường thay đổi từ 3 đến 5 cm. Ống không giãn thường không thể nhìn thấy khi siêu âm (Hình 6). Tuy nhiên, một số tác giả báo cáo sự xuất hiện của các đoạn ống Stenon không giãn nằm trong tuyến bằng siêu âm độ phân giải cao [13].

Hình 6. (a) Sơ đồ cho thấy vị trí ống stenon. 1 = tuyến mang tai, 2 = ống Stenon, 4 = cơ cắn, 5 = bề mặt xương hàm, 6 = cơ mút, mũi tên lớn = tĩnh mạch sau hàm và động mạch cảnh ngoài.

Hình 6 (b) ảnh siêu âm toàn cảnh cho thấy ống Stenon bị giãn ở bệnh nhân bị viêm và sỏi tuyến nước bọt (sialolithiasis). 1 = tuyến mang tai trái bị viêm, 2 = ống Stenon bị giãn, 3 = sỏi, 4  = cơ cắn, 5 = bề mặt xương hàm, 6 = cơ mút, mũi tên lớn = tĩnh mạch sau hàm và động mạch cảnh ngoài.

Trong mô mềm của má dọc theo ống Stenon có thể thấy tuyến mang tai phụ ở một bên hoặc cả hai bên.  Tuyến mang tai phụ cũng có thể là vị trí của các khối u tuyến nước bọt, lành tính hoặc ác tính [17,18].

Trong nhu mô của tuyến mang tai cũng có thể thấy các hạch bạch huyết [19]. Chúng nằm chủ yếu ở cực trên và cực dưới của tuyến. Các hạch bình thường trong tuyến mang tai có thể hình bầu dục hoặc hình  thuôn dài (Hình 7). Khoảng 60% các hạch tuyến mang tai  có tỷ lệ trục ngắn/trục dài > 0,5 (hình bầu dục). Sự có mặt của rốn [hạch] tăng âm là một tiêu chuẩn quan trọng đối với sự bình thường của các hạch tuyến mang tai (Hình 7). Trục ngắn của chúng không vượt quá 5-6 mm trong tình trạng bình thường [6,7]. Với việc ứng dụng siêu âm Doppler năng lượng có độ nhạy cao, các mạch máu trung tâm có thể nhìn thấy ở các hạch mang tai bình thường.

Hình 7. Các ảnh siêu âm ba chiều cho thấy một hạch bình thường trong tuyến mang tai (các mũi tên), hạch hình bầu dục với vỏ đồng nhất và rốn tăng âm trung tâm. Rốn liên tiếp với mô liên kết bao quanh (đầu mũi tên).

Tuyến dưới hàm (submadibular gland)

Tuyến dưới hàm nằm ở phần sau của tam giác dưới hàm. Các cạnh của tam giác dưới hàm được tạo bởi bụng trước và bụng sau cơ nhị thân và thân xương hàm dưới. Khoảng trước tuyến dưới hàm là mô liên kết và các hạch bạch huyết. Thông thường, hình dạng của tuyến dưới hàm trong các mặt cắt dọc và cắt ngang là hình tam giác (Hình 8). Tuyến dưới hàm có thể nối với tuyến mang tai hoặc tuyến dưới lưỡi bằng các mỏm tuyến.

Động mạch mặt có thể chạy ngoằn ngoèo trong nhu mô tuyến dưới hàm (Hình 9). Tĩnh mạch mặt chạy dọc phần trước trên của tuyến dưới hàm. Trong phần sau của tĩnh mạch mặt, có thể thấy một nhánh nối với tĩnh mạch sau hàm (Hình 2). Động mạch và tĩnh mạch lưỡi chạy ở phía trong tuyến dưới hàm.

Ống ngoại tiết tuyến dưới hàm (ống Wharton) chạy từ vùng rốn của tuyến dưới hàm ở mức bờ của cơ hàm móng (mylohyoid), rồi chạy vòng qua phần tự do của cơ hàm móng và kéo dài tới lỗ của nó ở mào dưới lưỡi dọc theo phần trong của tuyến dưới hàm. Thông thường, ống không giãn thì không nhìn thấy khi siêu âm, nhưng đôi khi có thể thấy ở các người gầy (Hình 10).

Đối với một số bệnh nhân (bệnh nhân béo phì, những người đã xạ trị vùng cổ), như mô tuyến dưới hàm có thể cản sóng siêu âm tới độ không thể nhìn thấy các cấu trúc nằm sâu sau tuyến mà ngay cả bờ sau của tuyến dưới hàm.

Hình 8. Ảnh siêu âm cắt chếch theo xương hàm (a) và sơ đồ tương ứng (b) cho thấy tuyến dưới hàm trái với các cấu trúc xung quanh. 1 = cơ hàm móng (mylohyoid), 2 = cơ móng lưỡi (hyoglossus).

Hình 9. Ảnh siêu âm cho thấy đường đi ngoằn ngoèo của động mạch mặt (đầu mũi tên) trong tuyến dưới hàm phải (mũi tên).

Hình 10. (a) Ảnh siêu âm cho thấy ống Wharton không giãn (mũi tên) ở một bệnh nhân gầy. Các đầu mũi tên = tuyến dưới hàm, 1 = cơ hàm móng.

Hình 10. (b) Sơ đồ đường đi của ống Wharton (mũi tên). Các đầu mũi tên = tuyến dưới hàm, 1 = cơ hàm móng, 2 = tuyến dưới lưỡi.

Tuyến dưới lưỡi (sublingual gland)

Tuyến dưới lưỡi nằm giữa các cơ của sàn miệng: cơ cằm móng (geniohyoid), cơ trong lưỡi, cơ móng lưỡi (phía trong) và cơ hàm móng (mylohyoid). Mặt ngoài tuyến sát xương hàm (mandible). Trên mặt cắt ngang, tuyến dưới lưỡi có hình bầu dục (Hình 11); trên mặt cắt song song với thân xương hàm, tuyến hình hạt đậu và thuôn dài. ống ngoại tiết của tuyến dưới lưỡi chạy dọc theo phần trong của tuyến.

Hình 11. Ảnh siêu âm cắt ngang (a) và sơ đồ tương ứng (b) cho thấy tuyến dưới lưỡi và các cấu trúc bao quanh. Vòng tròn trắng = ống Wharton, digastric m. = cơ nhị thân, geniohyoid m. = cơ cằm móng, genioglossus m. = cơ cằm lưỡi.

Hình 11. Ảnh siêu âm cắt ngang (a) và sơ đồ tương ứng (b) cho thấy tuyến dưới lưỡi và các cấu trúc bao quanh. Vòng tròn trắng = ống Wharton, digastric m. = cơ nhị thân, geniohyoid m. = cơ cằm móng, genioglossus m. = cơ cằm lưỡi.

 

Nguồn: http://bsxqtuan.wordpress.com

Nguyên bản: RadioGraphics 2006; 26:745–763

Bản tin BMR

Sinh thiết não qua da dưới hướng dẫn CTscanner

Tổn thương não nói chung và đặc biệt u não nói riêng hiện nay khá phổ biến. Mặc dù đã có nhiều phương tiện  chẩn đoán hiện đại, không xâm nhập như chụp CTscanner, MRI, PET-CT... nhưng nhiều trưòng hợp vẫn không thể xác định hay định hướng được bản chất của tổn thương. Trong khuôn khổ khóa học Điện quang thần kinh tổ chức tại Bệnh viện Bạch Mai từ 27/5-31/5 năm 2013, với sự giúp đỡ của Giáo sư Marce Hermie (cộng hòa Pháp), hôm nay lần đầu tiên thực hiện kỹ thuật sinh thiết não qua da dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính.

Chi tiết...

Copyright © 2014 Bach Mai Radiology. All Rights Reserved.
Friday the 24th. Affiliate Marketing. Vui lòng ghi rõ nguồn trích dẫn, xin cảm ơn!
Copyright 2012

©