rèm cửa, đăng ký nhãn hiệu, nấm lim xanh, mỹ phẩm ohui, áo đôi, ohui trang điểm, hài tết, táo quân cuối năm, bot yen mach rem phong ngu, ao khoac doi

Sốc phản vệ trong điện quang can thiệp mạch máu

Được viết ngày Thứ bảy, 01 Tháng 9 2012 Viết bởi Ths.Bs.Đào Danh Vĩnh

1. Giới thiệu chung

Điện quang can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị xâm nhập tối thiểu, rất an toàn và hiệu quả. Tuy vậy, cũng như mọi phương pháp điều trị khác, can thiệp nội mạch cũng có một tỷ lệ rất nhỏ - khoảng 2-3% - các tai biến có thể xảy ra. Đầy là điều không một thầy thuốc hay người bệnh nào mong muốn xảy ra nhưng thực tế thì vẫn tồn tại, có thể do yếu tố chủ quan hoặc khách quan. Tùy theo mức độ tổn thương mà hậu quả để lại của các tai biến có thể nhẹ, không cần điều trị hoặc nặng, cần phải điều trị can thiệp hoặc thậm chí tử vong. Các tai biến này có thể xuất hiện trước, trong hoặc sau khi thực hiện can thiệp

Ở Việt Nam, dị ứng thuốc nói chung chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 8,5% dân số. Trong số những người dị ứng thuốc, có khoảng 10% ở có biểu hiện sốc phản vệ và trong số người bị sốc phản vệ thì có khoảng 10% tử vong.

Tất cả mọi thuốc đều có thể gây dị ứng/sốc phản vệ Phản ứng dị ứng thuốc biểu hiện ngoài da (mày đay)

 

Shock phản vệ là một cấp cứu, có nguy cơ tử vong rất cao cần phải cấp cứu ngay lập tức và tại chỗ, khi tình trạng cho phép mới chuyển đến khoa hồi sức của bệnh viện tiếp tục điều trị, theo dõi và chăm sóc. Sốc phản vệ thường xuất hiện 1-2 phút sau khi đưa thuốc (dị nguyên) vào cơ thể. Có trường hợp tử vong 4 giờ sau khi vô tình bị bắn thuốc tiêm Penicillin vào mắt. Có bệnh nhân ốm điều trị ở nhà, sau khi tiêm Ampicilin và vitamin B6, B1 vài phút đã thấy choáng váng, khó thở, tím tái và tử vong chỉ sau 1/2 giờ. Trong ngành y, sốc phản vệ được coi là một tai biến kinh hoàng, một dạng dị ứng cấp tính với những biểu hiện rất rầm rộ: người bệnh choáng váng, nổi mày đay, huyết áp sụt, tím tái, vã mồ hôi, khó thở, mất ý thức...

Bất cứ loại thuốc nào cũng có thể gây dị ứng hoặc sốc phản vệ, bao gồm cả thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau hạ nhiệt, thuốc chống viêm, vitamin, dịch truyền, vắc xin, thuốc gây tê, gây mê... Ngay cả những thuốc được sử dụng trong cấp cứu như thuốc chống dị ứng (Dimedrol) cũng có thể gây nên sốc phản vệ.

Trong thi thực hiện can thiệp, người bệnh thường được sử dụng một số loại thuốc nhất định, bao gồm thuốc thuốc gây mê /gây tê, giảm đau, kháng sinh, thuốc cản quang Iod và điều tất yếu là các thuốc này cũng có thể gây dị ứng/sốc phản vệ cho người bệnh.Tùy theo mức độ mẫn cảm của cơ thể mà các mức độ phản ứng có thể khác nhau, từ mức độ nhẹ đến nặng, nguy hiểm nhất là tình trạng sốc phản vệ. 

2. Một số loại thuốc thường được sử dụng trong điện quang can thiệp

+ Thuốc gây tê tại chỗ: Xylocain, Lidocain, Novocain,...

+ Thuốc gây mê toàn thân: Propofol, Midazonal,...

+ Thuốc chống đông: Heparin

+ Thuốc cản quang Iod: Xenetic, Hexabrix, Visipaque, Ultravis...

+ Thuốc giảm đau: Fentanyl, Morphine

+ Thuốc hạ huyết áp: Adalat, Nifedipine

+ Thuốc chống nôn: Primperane, Nospa,...

+ Một số thuốc khác ít sử dụng: Methylprednisolon, Dimedrol, các thuốc kháng sinh dự phòng...

Thuốc cản quang Iode để chụp mạch máu và thực hiện can thiệp mạch

 

3. Biểu hiện lâm sàng của sốc phản vệ

Sốc phản vệ thường xuất hiện ngay hoặc rất sớm (vài giây, vài phút, vài giờ nếu là thuốc viên) sau khi người bệnh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng. Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp sốc muộn sau 15-30 phút.

+ Bắt đầu người bệnh ngứa, nóng ran, cảm giác kiến bò, kim châm, thường gặp, có tính chất báo hiệu.

+ Tim mạch: huyết áp tụt (huyết áp tâm thu < 90mmHg), có khi không đo được, mạch nhanh nhỏ hoặc không bắt được ( > 120 lần/phút). Có thể loạn nhịp tim.

+ Ngoài da: da xung huyết đỏ, đầu chi ấm nóng (sốc nóng) hoặc lạnh tím (sốc lạnh). Người bệnh bị giãn mạch sau đó lại bị co mạch đó là điều khác với các sốc khác.

+ Triệu chứng hô hấp

- Tức ngực khó thở.
- Co thắt phế quản giống như hen: khó thở ra, nghe có ran rít hai bên phổi. Tăng tiết nhiều dịch ở phế quản.
- Khó thở thanh quản (do co thắt và phù nề thanh môn)

+ Triệu chứng tiêu hóa

- Thường có đau bụng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy.

- Xuyết huyết nội tạng (xuất huyết tiêu hoá)

- Giãy dụa, hôn mê nếu sốc phản vệ do Penicilin thì có biểu hiện mề đay, ngứa.

4. Xử trí cấp cứu

Tại chỗ
- Ngừng ngay tiếp xúc với dị nguyên (thuốc đang tiêm, uống, bôi, nhỏ măt, mũi…)

- Đặt bệnh nhân nằm tại chỗ, đầu thấp, chân cao

- Dùng adrenalin là thuốc cơ bản để chống sốc phản vệ: ống 1mg/ml (1/1000). Dùng ngay sau khi bị sốc phản vệ.

- Đường dùng: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Liều dùng: người lớn: 0.5 – 1 ống. Trẻ em, pha loãng 1 ống với 9ml nước cất thành 10ml (dung dịch 1/10.000). Tiêm 10àg /kg cân nặng/ 1 lần.

- Tiêm nhắc lại như trên sau 10 – 15 phút cho đến khi huyết áp lên đến 10mmHg

- Nếu sốc nặng có thể pha loãng adrenalin 1/20 rồi tiêm tĩnh mạch, bơm qua nội khí quản.

- Theo dõi huyết áp 10 – 15 phút/lần.

- Nhanh chóng gọi bác sĩ và người đến hỗ trợ.

Tại đơn nguyên cấp cứu

+ Xử trí suy hô hấp

- Cho thở oxy 6-8 lít/phút, nên cho thở qua mặt nạ. Nếu suy hô hấp ngày càng nặng lên, thở oxy không kết quả: bóp bóng ambu qua mặt nạ có oxy 100%.

- Chuẩn bị dụng cụ phụ bác sĩ đặt nội khí quản hoặc mở khí quản nếu có phù nề thanh môn gây khó thở thanh quản cấp.

- Cho bệnh nhân thở máy với oxy 100% trong giờ đầu.

+ Thiết lập đường truyền tĩnh mạch

- Sử dụng adrenalin để duy trì huyết áp với liều 0.1àg /kg cân nặng/ phút, liều điều chỉnh theo huyết áp.

- Truyền dịch tĩnh mạch chậm aminophylin 1mg/kg/giờ hoặc Terbutalin 0.2mcg/kg/phút (theo y lệnh), NaCl 0.9%, có thể dung các dung dịch cao phân tử.

+ Các thuốc khác

- Corticoid: Solu-medrol, Depersolon, hydrocortison…,có thể dùng khí dung.

- Băng ép chi phía trên chỗ tiêm (nếu có thể)

5. chăm sóc người bệnh sốc phản vệ

- Để bệnh nhân nằm: đầu thấp, chân kê cao để đảm bảo tuần hoàn não. Điều dưỡng có mặt liên tục bên cạnh bệnh nhân để họ yên tâm, không lo lắng.

- Duy trì hô hấp: thông thoáng đường hô hấp, hút đờm rãi, cho bệnh nhân thở oxy (theo y lệnh). Nếu bệnh nhân có suy hô hấp nặng phải phối hợp với bác sỹ đặt nội khí quản hoặc mở khí quản cho bệnh nhân thở máy và theo dõi máy thở, nếu có chống máy phải báo bác sỹ ngay.

- Phục hồi thể tích tuần hoàn: cầm máu nếu có xuất huyết xảy ra, phụ bác sĩ đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, mục đích để theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm để bù dịch, máu, theo dõi khối lượng tuần hoàn và theo dõi diễn biến của sốc.

- Thực hiện các y lệnh nhanh chóng và kịp thời, chính xác: tiêm, truyền dịch cho bệnh nhân, lấy máu làm xét nghiệm cấp ( nên lấy tĩnh mạch bẹn vì dễ lấy khi cấp cứu), đo điện tâm đồ, X quang tim phổi…

- Theo dõi các dấu hiệu sống 10 phút 1 lần đến khi huyết áp tối đa lên đến 100 mmHg sau đó cứ 30 phút do 1 lần đến khi tiến triển tương đối tốt thì 1 giờ đo huyết áp 1 lần để đánh giá sự tiến triển của sốc và xử trí kịp thời.

- Theo dõi sự bài tiết : đặt thông tiểu để lưu thông và theo dõi lượng nước tiểu từng giờ, nếu nước tiểu ít, vô niệu trong 6 giờ đầu là tiên lượng bệnh nhân xấu, báo ngay bác sĩ

- Đặt thông dạ dày để theo dõi xuất huyết nếu có, và nuôi dưỡng bệnh nhân nếu như bệnh nhân không ăn được đường miệng.

- Theo dõi tình trạng ý thức của bệnh nhân

- Cuối cùng mọi quan sát theo dõi và hành động chăm sóc điều dưỡng đều phải ghi lại đầy đủ, chính xác, chi tiết để bác sỹ có thông tin cùng phối hợp để xử trí và chăm sóc bệnh nhân

6. Các biện pháp phòng ngừa
+ Trước khi dùng thuốc phải hỏi người bệnh hoặc người nhà tiền sử dị ứng thuốc. Người bệnh sốc phản vệ trước khi ra viện cần ghi rõ tên thuốc (chất) gây dị ứng để họ biết rõ.

+ Người bệnh cần cung cấp mọi thông tin về tình trạng dị ứng của bản thân cho bác sỹ, bao gồm dị ứng thực phẩm, dị ứng thuốc, hen suyễn, tiền sử đã sốc phản vệ...

+ Phải cảnh giác với tất cả các bệnh nhân có nguy cơ sốc, các bệnh nhân này cần chẩn đoán và nhận ra sốc trước khi nó thực sự xảy ra

+ Chăm sóc chu đáo cả về thể chất và tinh thần cho những bệnh nhân có nguy cơ sốc là tốt nhất để phòng ngừa sốc xảy ra.

+ Phải luôn có sẵn trong tay các phương tiện, dụng cụ thuốc men các loại: dịch thay thế để sẵn sàng khi sốc xảy ra.

+ Thực hiện động viên tngười bệnh

+ Đặt bệnh nhân nằm ngửa thoải mái tạo điều kiện tốt cho tuần hoàn và hô hấp

+ Theo dõi liên tục các chỉ số sinh tồn, nước tiểu cho đến khi sốc hoàn toàn không còn được nghĩ đến.

+ Hộp chống sốc luôn sẵn sàng gồm có

- Adrelanin 1mg 02 ống
- Nước cất pha tiêm 02 ống
- Solumedrol, Deprenisolon: 2 ống
- Bơm kim tiêm 5 hoặc 10ml 2 bộ
- Bông, gạc, cồn, dây chun, kìm kose
- Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ (đã được thống nhất từ Bộ Y Tế).

7. Đánh giá

+ Người bệnh sốc phản vệ được chăm sóc tốt khi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân được cải thiện, kiểm sóat được hô hấp, tuần hoàn, bài tiết, tiêu hoá.

+ Phát hiện sớm các dị nguyên, cách ly có hiệu quả dị nguyên.

+ Bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ không để xảy ra biến chứng.

+ Các y lệnh của bác sỹ như thuốc men, xét nghiệm, các thủ thuật được thực hiện nhanh chóng, chính xác, đầy đủ.

+ Các chăm sóc cơ bản được thực hiện đầy đủ, đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.

+ Bệnh nhân và gia đinh yên tâm, hợp tác điều trị.

Bản tin BMR

Thông báo Hội nghị Điện quang & YHHN lần thứ 14

Được sự cho phép của Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Y tế, Tổng Hội Y học Việt Nam, Hội Điện quang và Y học hạt nhân phối hợp với Chi Hội Chẩn đoán hình ảnh Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị vào 3-4.8.2012. Hội nghị cập nhật với những kiến thức mới về Chẩn đoán hình ảnh và YHHN với sự tham gia của các giáo sư, bác sĩ từ Pháp, Hàn Quốc… và các giáo sư, bác sĩ từ các bệnh viện toàn Quốc. Chi tiết...

Copyright © 2014 Bach Mai Radiology. All Rights Reserved.
Sunday the 23rd. Affiliate Marketing. Vui lòng ghi rõ nguồn trích dẫn, xin cảm ơn!
Copyright 2012

©